SCAMPER là một bảng kiểm gồm bảy nhóm câu hỏi để biến đổi một sản phẩm, dịch vụ hay quy trình có sẵn: Substitute (thay thế), Combine (kết hợp), Adapt (thích ứng), Modify (điều chỉnh, phóng to, thu nhỏ), Put to other uses (dùng vào việc khác), Eliminate (loại bỏ), Reverse hoặc Rearrange (đảo ngược, sắp xếp lại). Mỗi chữ cái là một hướng buộc bạn nhìn đối tượng theo cách khác.
Bob Eberle hệ thống hoá SCAMPER đầu thập niên 1970 dựa trên bảng câu hỏi gợi ý mà Alex Osborn, người đặt ra thuật ngữ brainstorming, đã trình bày trong cuốn Applied Imagination (1953). Sức mạnh của nó nằm ở sự đơn giản: không cần đào tạo dài, dùng được ngay trong một cuộc họp.
Giới hạn cũng xuất phát từ sự đơn giản đó: SCAMPER giỏi tạo cải tiến gia tăng trên vật đã có, kém hơn khi bài toán là một mâu thuẫn kỹ thuật sâu. Bài này giải thích cơ chế, đi trọn bảy bước trên một ví dụ cụ thể, rồi chỉ ra khi nào nên dùng và khi nào nên chuyển sang công cụ khác.
Vì sao một bảng câu hỏi lại giúp sáng tạo
Tâm lý học nhận thức mô tả hiện tượng cố định chức năng (functional fixedness): khi đã quen dùng một vật cho một việc, người ta khó nghĩ tới việc khác. Thí nghiệm cây nến của Karl Duncker, công bố năm 1945, là minh hoạ kinh điển: người tham gia được đưa cây nến, bao diêm và hộp đinh ghim, nhiệm vụ là gắn nến lên tường. Nhiều người không nghĩ tới việc dùng chính chiếc hộp làm giá đỡ, vì họ nhìn nó như vật chứa đinh.
Bảng câu hỏi như SCAMPER can thiệp đúng vào điểm nghẽn này. Thay vì chờ liên tưởng tự đến, nó cung cấp một danh sách thao tác biến đổi, mỗi thao tác đẩy sự chú ý sang một thuộc tính khác của đối tượng: vật liệu, chức năng, trình tự, người dùng, bối cảnh. Đó là cách giảm phụ thuộc vào cảm hứng: cùng một người, cùng một ngày, nhưng có danh sách thao tác trước mặt thì số hướng được xét thường nhiều hơn so với ngồi chờ ý tưởng tự đến.
Cũng cần nói rõ: nghiên cứu thực nghiệm về riêng SCAMPER không nhiều. Bằng chứng gián tiếp đến từ các nghiên cứu về hiệu quả của câu hỏi gợi ý và kỹ thuật kích thích ý tưởng nói chung, cho thấy chúng thường làm tăng số lượng và độ đa dạng ý tưởng so với không có gợi ý. Về chất lượng ý tưởng, kết quả không đồng nhất và phụ thuộc mạnh vào cách đánh giá.
Bảy hướng biến đổi và câu hỏi cốt lõi của từng hướng
Bảng dưới đây gom các câu hỏi then chốt cho mỗi chữ cái. Trong thực hành, mỗi chữ có thể có tới hàng chục câu hỏi phụ; danh sách rút gọn này đủ để bắt đầu.
| Chữ | Hướng | Câu hỏi gợi ý | Ví dụ đã có trên thị trường |
|---|---|---|---|
| S | Thay thế | Thay vật liệu, thành phần, người làm, năng lượng, địa điểm bằng gì? | Ống hút làm từ cỏ bàng, gạo thay nhựa |
| C | Kết hợp | Gộp với sản phẩm, chức năng, dịch vụ nào? Gộp mục đích nào? | Điện thoại gộp máy ảnh, máy nghe nhạc |
| A | Thích ứng | Ngành khác, tự nhiên, quá khứ đã giải bài này thế nào? Bắt chước được gì? | Băng dán gai móc lấy ý từ quả ké bám vào lông thú |
| M | Điều chỉnh | Phóng to, thu nhỏ, đổi hình dạng, màu, tần suất, cường độ? | Gói gia vị nhỏ dùng một lần cho bếp gia đình ít người |
| P | Dùng vào việc khác | Ai khác dùng được? Dùng trong bối cảnh khác? Phụ phẩm dùng được không? | Vỏ trấu làm viên nén đốt, xơ dừa làm giá thể trồng cây |
| E | Loại bỏ | Bỏ bớt bộ phận, bước, tính năng nào mà vẫn đạt chức năng chính? | Tai nghe không dây bỏ dây cáp |
| R | Đảo ngược, sắp xếp lại | Đổi trình tự, đổi vai, lộn trong ra ngoài, làm ngược lại? | Ăn buffet: khách tự lấy thay vì phục vụ mang ra |
Lưu ý ví dụ về băng dán gai móc là trường hợp mô phỏng sinh học thường được kể gắn với kỹ sư Thuỵ Sĩ George de Mestral những năm 1940–1950. Các ví dụ trong bảng dùng để minh hoạ hướng biến đổi, không ngụ ý người sáng tạo ra chúng đã dùng SCAMPER.
Ví dụ từng bước: cải tiến chiếc nón lá cho người giao hàng xe máy
Giả sử một xưởng thủ công ở Huế muốn phát triển dòng nón lá dành cho người đi xe máy và giao hàng, vốn đội mũ bảo hiểm nên không đội nón được. Đây là cách một buổi SCAMPER 90 phút có thể diễn ra (các ý dưới đây là ý tưởng thô cần kiểm chứng):
- Xác định đối tượng và người dùng: sản phẩm là nón lá truyền thống; người dùng là người giao hàng chạy xe nhiều giờ dưới nắng; vấn đề là mũ bảo hiểm không che được gáy, vai và nón lá thì không đội kèm được.
- S, thay thế: thay lá nón bằng lớp lá ép trên nền vải mỏng để gấp được; thay quai cằm bằng dây đàn hồi gài vào mũ bảo hiểm.
- C, kết hợp: kết hợp vành nón với mũ bảo hiểm thành tấm che rời gắn vào mũ, giữ được hình dáng và chất liệu lá đặc trưng.
- A, thích ứng: học từ tấm che gáy của mũ lính sa mạc và mũ công nhân; học từ cơ chế gấp của ô gấp để vành thu gọn khi không dùng.
- M, điều chỉnh: thu hẹp vành phía trước để không cản tầm nhìn, kéo dài phía sau để che gáy; tăng lỗ thoáng để giảm lực cản gió ở tốc độ cao.
- P, dùng vào việc khác: tấm che khi tháo ra dùng làm quạt hoặc tấm lót ngồi; hướng sang du khách đi xe máy tham quan miền Trung như một sản phẩm lưu niệm có công năng.
- E, loại bỏ: bỏ phần chóp nón vì mũ bảo hiểm đã che đỉnh đầu, giảm khối lượng và vật liệu.
- R, đảo ngược: thay vì người dùng đội nón, xe mang nón: một tấm che gắn lên giá chở hàng để che nắng cho hàng hoá như hoa, rau.
- Lọc và thử: chọn hai ý khả thi nhất theo tiêu chí an toàn giao thông, chi phí và khả năng giữ nghề thủ công; làm mẫu thử và nhờ vài người giao hàng chạy thử, đo cảm nhận gió, tầm nhìn và độ bền.
Hai chú ý quan trọng trong ví dụ này. Thứ nhất, an toàn là ràng buộc cứng: bất kỳ phụ kiện nào gắn vào mũ bảo hiểm đều cần kiểm tra không làm giảm khả năng bảo vệ của mũ và phù hợp quy định hiện hành. Thứ hai, chữ R dẫn tới một thị trường hoàn toàn khác, cho thấy SCAMPER đôi khi đổi cả câu hỏi kinh doanh chứ không chỉ đổi sản phẩm.
Cách chạy một buổi SCAMPER cho ra kết quả
Chọn đối tượng hẹp. "Cải tiến dịch vụ khách hàng" quá rộng; "cải tiến bước nhận hàng đổi trả tại quầy" đủ hẹp để mỗi câu hỏi sinh ra ý cụ thể. Đối tượng càng cụ thể, câu hỏi càng sắc.
Mô tả đối tượng theo thuộc tính trước. Liệt kê vật liệu, bộ phận, người tham gia, trình tự, năng lượng, bối cảnh sử dụng. SCAMPER tác động lên thuộc tính, nên thiếu danh sách thuộc tính thì câu hỏi trôi lơ lửng.
Đặt hạn mức số ý cho mỗi chữ. Ví dụ ít nhất năm ý mỗi chữ trong mười phút. Hạn mức buộc nhóm đi qua những ý đầu tiên vốn thường là ý hiển nhiên.
Không đánh giá trong lúc tạo ý. Tách hẳn hai pha. Đánh giá sớm làm người tham gia tự kiểm duyệt, đặc biệt người có vị trí thấp trong tổ chức.
Đánh giá bằng tiêu chí viết sẵn. Chẳng hạn mức độ giải quyết vấn đề người dùng, chi phí, thời gian thử nghiệm, rủi ro. Chấm theo tiêu chí giảm việc chọn theo người nói to nhất.
Giữ lại ý bị loại. Ý bị loại hôm nay có thể là đáp án khi ràng buộc thay đổi, chẳng hạn khi công nghệ rẻ đi hay thị trường khác mở ra.
Những lỗi khiến SCAMPER cho ra toàn ý hiển nhiên
Đi qua bảy chữ quá nhanh. Nhiều nhóm dành hai phút cho mỗi chữ, ghi một hai ý rồi chuyển. Kết quả là danh sách gồm toàn những ý ai cũng nghĩ ra trong năm phút đầu. Các ý đáng giá thường xuất hiện ở lượt thứ năm, thứ sáu của cùng một chữ, khi những liên tưởng quen đã cạn.
Chỉ biến đổi sản phẩm, quên biến đổi người dùng và bối cảnh. Câu hỏi "dùng vào việc khác" và "thích ứng" mạnh nhất khi áp vào người dùng mới, thời điểm mới, địa điểm mới. Ví dụ nón lá ở trên chỉ mở ra thị trường du khách khi nhóm hỏi "ai khác cần che nắng trên xe máy".
Nhầm điều chỉnh bề ngoài với điều chỉnh chức năng. Đổi màu, đổi bao bì là điều chỉnh hợp lệ nhưng nông. Chữ M cần được đẩy tới tần suất, cường độ, kích thước theo bậc độ lớn: nếu sản phẩm to gấp mười hay nhỏ đi mười lần thì sao.
Không quay lại vấn đề gốc. Ý tưởng hay về mặt kỹ thuật nhưng không giải vấn đề của người dùng vẫn là ý tưởng hỏng. Mỗi ý nên được hỏi lại một câu: nó làm cho trải nghiệm của người dùng mục tiêu tốt hơn ở điểm nào cụ thể.
SCAMPER mạnh ở đâu, yếu ở đâu so với các phương pháp khác
SCAMPER phù hợp nhất với bài toán cải tiến sản phẩm và dịch vụ hiện có, khi nhóm cần nhiều phương án nhanh và không có thời gian học phương pháp phức tạp. Nó cũng hiệu quả cho người không chuyên kỹ thuật, ví dụ trong marketing, giáo dục, dịch vụ khách hàng, vì các câu hỏi dùng ngôn ngữ đời thường.
Nó yếu khi bài toán có mâu thuẫn rõ: muốn nhẹ hơn nhưng phải bền hơn, muốn rẻ hơn nhưng phải an toàn hơn. Khi đó các câu hỏi SCAMPER thường cho ra thoả hiệp. TRIZ, với các nguyên tắc tách và ma trận mâu thuẫn, được thiết kế riêng cho loại bài toán này. SCAMPER cũng không trả lời câu hỏi có nên làm hay không: nó không có bước nghiên cứu người dùng như Design Thinking.
Cách phối hợp hay dùng là: Design Thinking để tìm đúng vấn đề, SCAMPER để mở rộng nhanh không gian giải pháp, TRIZ để xử lý các mâu thuẫn kỹ thuật còn sót lại, và thử nghiệm có kiểm soát để chọn phương án. Đặt SCAMPER đúng chỗ trong chuỗi giúp nó phát huy mà không bị kỳ vọng quá sức.
Câu hỏi thường gặp
SCAMPER có phải do Alex Osborn sáng tạo ra không?
Không hẳn. Osborn trình bày một danh sách câu hỏi gợi ý dài trong Applied Imagination năm 1953. Bob Eberle sắp xếp lại các câu hỏi đó thành từ viết tắt SCAMPER dễ nhớ, xuất bản dưới dạng tài liệu trò chơi phát triển trí tưởng tượng đầu thập niên 1970. Vì vậy nên ghi nhận cả hai người khi trích dẫn.
Có cần đi theo đúng thứ tự S-C-A-M-P-E-R không?
Không bắt buộc. Thứ tự chỉ để dễ nhớ. Với một số bài toán, nên bắt đầu bằng E (loại bỏ) để làm gọn sản phẩm trước, hoặc R (đảo ngược) để phá khung nhìn. Điều quan trọng là đi qua đủ bảy hướng, không bỏ qua chữ nào chỉ vì thấy không hợp.
SCAMPER dùng cá nhân được không hay phải làm nhóm?
Dùng cá nhân rất tốt, thậm chí có lợi thế vì không bị ảnh hưởng bởi áp lực nhóm. Một cách hiệu quả là mỗi người tự làm SCAMPER trong hai mươi phút, sau đó cả nhóm gộp và phát triển ý của nhau. Cách này tận dụng ưu điểm của cả làm riêng lẫn làm chung.
Dùng SCAMPER cho dịch vụ hay quy trình thế nào?
Thay vì vật liệu và bộ phận, hãy liệt kê các bước, người tham gia, giấy tờ, thời điểm và kênh giao tiếp. Thay thế có thể là đổi kênh, loại bỏ có thể là bỏ một bước xác nhận, đảo ngược có thể là để khách tự làm một khâu. Các câu hỏi vẫn giữ nguyên tinh thần.
SCAMPER có giúp tạo ra sáng chế được bảo hộ không?
SCAMPER có thể dẫn tới giải pháp mới, nhưng các biến đổi đơn giản như thay vật liệu hay kết hợp hai sản phẩm thường bị coi là hiển nhiên với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực, khó đáp ứng tiêu chuẩn trình độ sáng tạo. Muốn bảo hộ, cần tra cứu tình trạng kỹ thuật và tham vấn chuyên gia sở hữu trí tuệ.