TrungTamPhatMinh.comTrung Tâm Phát Minh
Sở hữu trí tuệ

Nhãn hiệu là gì? Khả năng phân biệt, dấu hiệu bị từ chối và nhãn hiệu nổi tiếng

Nhãn hiệu là gì, vì sao tên mô tả khó đăng ký, thang đo khả năng phân biệt, khi nào dấu hiệu bị coi là gây nhầm lẫn và cách nhãn hiệu mất quyền vì thành tên chung.

Low angle macro of an artisan pressing a brass stamp into warm red sealing wax on kraft paper, shallow depth of field, workshop background blurred, amber and burgundy tones

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ thể này với chủ thể khác. Dấu hiệu đó có thể là chữ, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều, sự kết hợp các yếu tố ấy thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; luật Việt Nam sửa đổi gần đây còn mở cho dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ hoạ. Chức năng pháp lý cốt lõi của nhãn hiệu là chỉ nguồn gốc thương mại: nhìn dấu hiệu, người mua biết hàng do ai chịu trách nhiệm.

Vì chức năng là phân biệt, điều kiện quyết định để được bảo hộ là khả năng phân biệt, không phải độ đẹp hay độ sáng tạo. Một cái tên mô tả trực tiếp sản phẩm như "Sữa Tươi" cho sữa sẽ bị từ chối, trong khi một từ vô nghĩa hoặc một từ thông dụng dùng cho mặt hàng chẳng liên quan lại là nhãn hiệu mạnh.

Phần dưới giải thích thang đo khả năng phân biệt, các nhóm dấu hiệu bị từ chối, cách đánh giá "tương tự gây nhầm lẫn", vì sao nhãn hiệu có thể chết vì quá thành công, và các loại nhãn hiệu đặc biệt. Quy định cụ thể xem trong Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản hướng dẫn hiện hành.

Nhãn hiệu, thương hiệu và tên thương mại: ba khái niệm hay bị trộn

Thương hiệu là khái niệm marketing, chỉ toàn bộ hình ảnh, cảm nhận, lời hứa mà khách hàng gắn với một doanh nghiệp hay sản phẩm. Nó không phải thuật ngữ của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nhãn hiệu là phần thương hiệu được pháp luật bảo hộ thành quyền: cái tên, cái logo, có khi là hình dáng bao bì, được ghi vào giấy chứng nhận cho những nhóm hàng hoá, dịch vụ cụ thể.

Tên thương mại là tên gọi doanh nghiệp dùng trong kinh doanh để phân biệt chính chủ thể kinh doanh với chủ thể khác cùng lĩnh vực và khu vực. Tên thương mại được bảo hộ dựa trên việc sử dụng hợp pháp, không cần đăng ký, nhưng phạm vi hẹp hơn và khó chứng minh hơn. Cần phân biệt tiếp với tên doanh nghiệp trong đăng ký kinh doanh, vốn chỉ là thủ tục hành chính về pháp nhân.

Một doanh nghiệp có thể có tên doanh nghiệp "Công ty TNHH Thực phẩm Sông Hồng", tên thương mại "Sông Hồng Food" dùng trên hoá đơn, và nhãn hiệu "Mộc Sen" cho dòng bánh (ví dụ giả định). Mỗi thứ chịu một cơ chế riêng. Lỗi phổ biến của doanh nghiệp nhỏ là đầu tư lớn cho thương hiệu nhưng không đăng ký nhãn hiệu, đến lúc mở rộng mới phát hiện ai đó đã nộp đơn trước.

Quyền nhãn hiệu cũng gắn với danh mục hàng hoá, dịch vụ cụ thể theo Bảng phân loại Nice. Hai doanh nghiệp có thể cùng dùng một tên cho hai ngành xa nhau như sơn tường và dịch vụ du lịch, trừ khi một bên là nhãn hiệu nổi tiếng. Đây là nguyên tắc chuyên biệt, giải thích vì sao cùng một từ có thể thuộc về nhiều chủ khác nhau.

Thang đo khả năng phân biệt

Án lệ Mỹ, đặc biệt vụ Abercrombie & Fitch kiện Hunting World năm 1976, phổ biến một thang năm bậc mà giới thực hành nhiều nước dùng làm khung tư duy. Luật Việt Nam không chia đúng năm bậc này, nhưng logic tương đồng: càng xa nghĩa mô tả, càng dễ bảo hộ.

BậcBản chấtVí dụ minh hoạKhả năng bảo hộ
Từ tự tạoTừ không có nghĩa, đặt ra để làm nhãn hiệuKodak cho máy ảnhMạnh nhất
Từ tuỳ ýTừ có nghĩa nhưng không liên quan đến sản phẩmApple cho máy tínhMạnh
Từ gợi ýGợi đặc tính, người mua phải suy luận một bướcmột tên như "Nhanh Lẹ" cho dịch vụ chuyển phát (giả định)Thường được bảo hộ, ranh giới mờ
Từ mô tảNói thẳng chất lượng, công dụng, nguồn gốc"Cà phê Rang Xay" cho cà phêBị từ chối, trừ khi chứng minh được đã có khả năng phân biệt qua sử dụng
Từ chungTên gọi chính của loại sản phẩm"Bánh mì" cho bánh mìKhông bao giờ bảo hộ

Mâu thuẫn quen thuộc: bộ phận marketing thích tên mô tả vì khách hiểu ngay, còn luật sư thích tên tự tạo hay tuỳ ý vì dễ đăng ký và dễ bảo vệ. Lối thoát thường là tên gợi ý, hoặc tên tuỳ ý kèm khẩu hiệu mô tả không yêu cầu bảo hộ riêng.

Khái niệm "khả năng phân biệt đạt được qua sử dụng" (ở Mỹ gọi là secondary meaning) cho phép một dấu hiệu vốn mô tả được bảo hộ nếu chứng minh công chúng đã coi nó là chỉ dẫn nguồn gốc. Gánh nặng chứng minh nặng, cần bằng chứng sử dụng lâu dài, rộng rãi.

Các nhóm dấu hiệu bị từ chối thường gặp

Thiếu khả năng phân biệt tự thân. Hình học đơn giản, chữ số, chữ cái đơn lẻ không có thiết kế riêng, chữ thuộc ngôn ngữ không thông dụng khó đọc, dấu hiệu quá phức tạp, hoặc dấu hiệu chỉ mô tả thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng của hàng hoá.

Tên địa danh. Tên tỉnh, thành, vùng nổi tiếng thường không được độc quyền, đặc biệt khi người tiêu dùng có thể hiểu đó là nguồn gốc hàng hoá. Đây cũng là vùng chồng lấn với chỉ dẫn địa lý.

Dấu hiệu gây hiểu sai. Dấu hiệu làm người tiêu dùng hiểu sai về nguồn gốc, tính năng, chất lượng, ví dụ dùng chữ "Organic" cho hàng không hữu cơ, hay mang yếu tố gợi một chỉ dẫn địa lý mà sản phẩm không có nguồn gốc từ đó.

Dấu hiệu bị cấm. Quốc kỳ, quốc huy, tên và biểu tượng của cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế khi không được phép; tên thật, biệt hiệu, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân; dấu hiệu trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng.

Xung đột với quyền có trước. Trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nộp đơn trước cho hàng hoá trùng, tương tự; với nhãn hiệu nổi tiếng; với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp hay quyền tác giả của người khác. Đây là lý do từ chối phổ biến nhất trong thực tế, và cũng là lý do bắt buộc tra cứu trước khi nộp đơn.

"Tương tự gây nhầm lẫn" được đánh giá thế nào

Đánh giá nhầm lẫn là phần khó nhất của luật nhãn hiệu vì nó là phán đoán tổng hợp, không có công thức. Hai trục chính luôn được xét cùng lúc: mức độ tương tự của dấu hiệu và mức độ tương tự của hàng hoá, dịch vụ. Dấu hiệu càng giống thì hàng hoá chỉ cần gần nhau một chút cũng đủ gây nhầm lẫn, và ngược lại.

Với dấu hiệu, người thẩm định so sánh về cấu tạo (chữ, cách viết), cách phát âm, ý nghĩa và ấn tượng thị giác tổng thể. Yếu tố chính, tức phần dễ nhớ và có khả năng phân biệt nhất, được đặt nặng hơn các phần mô tả. Hai nhãn "Hoa Sen Vàng" và "Sen Vàng" cho cùng sản phẩm trà có nguy cơ cao, vì phần nổi bật trùng nhau và nghĩa gần như đồng nhất (ví dụ giả định). Ở Việt Nam, cách phát âm đặc biệt quan trọng vì người mua thường gọi tên hàng bằng miệng ở chợ, tiệm tạp hoá.

Với hàng hoá, xét bản chất, công dụng, kênh phân phối, đối tượng mua và tính bổ trợ hay thay thế. Cùng nhóm Nice chưa chắc đã tương tự, khác nhóm chưa chắc đã an toàn: kem đánh răng và bàn chải đánh răng ở hai nhóm khác nhau nhưng bán cạnh nhau và người mua dễ nghĩ cùng một nhà sản xuất.

Chuẩn mực tham chiếu là người tiêu dùng bình thường của loại hàng đó, với mức chú ý thông thường và trí nhớ không hoàn hảo, chứ không phải chuyên gia đặt hai nhãn cạnh nhau soi từng nét. Hàng giá trị cao, mua có cân nhắc như ô tô hay thiết bị y tế thì mức chú ý cao hơn; hàng tiêu dùng nhanh giá rẻ thì nguy cơ nhầm lẫn bị đánh giá chặt hơn.

Khi nhãn hiệu chết vì quá thành công

Một nghịch lý của luật nhãn hiệu: thương hiệu càng thống trị, càng có nguy cơ trở thành tên gọi chung của cả loại sản phẩm và mất quyền. Hiện tượng này được gọi là "tên chung hoá" (genericide). Các ví dụ kinh điển ở Mỹ là "aspirin", "escalator" (thang cuốn) và "thermos" (bình giữ nhiệt), từng là nhãn hiệu riêng nhưng bị toà án hoặc cơ quan đăng ký coi là tên chung trong những bối cảnh nhất định.

Ở Việt Nam, nhiều người gọi xe máy tay ga là "xe Honda" hay gọi mì gói bằng tên một nhãn cụ thể; đây là dạng tên chung hoá trong ngôn ngữ đời thường. Việc dân gian dùng như vậy chưa tự động làm mất quyền, nhưng nếu chủ sở hữu buông lỏng, để chính đối thủ và báo chí dùng tên đó như danh từ chung, rủi ro tăng dần. Luật Việt Nam có căn cứ chấm dứt hiệu lực khi nhãn hiệu trở thành tên gọi chung của hàng hoá đăng ký.

Doanh nghiệp lớn phòng ngừa bằng nhiều cách: luôn dùng nhãn hiệu như tính từ đi kèm danh từ chung ("băng dính Scotch" thay vì "Scotch"), dùng ký hiệu đăng ký, gửi thư nhắc khi báo chí hoặc đối thủ dùng sai, và duy trì một tên gọi chung thay thế cho loại sản phẩm. Ngoài tên chung hoá, nhãn hiệu còn có thể bị chấm dứt vì không sử dụng liên tục trong một thời hạn luật định (ở Việt Nam là năm năm) mà không có lý do chính đáng, khi có người yêu cầu.

Các loại nhãn hiệu đặc biệt

Nhãn hiệu tập thể. Thuộc về một tổ chức như hội, hợp tác xã, để các thành viên dùng phân biệt hàng hoá của thành viên với người ngoài tổ chức. Nhiều nông sản địa phương ở Việt Nam được bảo hộ dưới dạng này, với quy chế sử dụng quy định ai được dùng và điều kiện gì.

Nhãn hiệu chứng nhận. Chủ sở hữu cho phép người khác dùng để chứng nhận một đặc tính như xuất xứ, nguyên liệu, chất lượng, phương pháp sản xuất. Chủ sở hữu thường không được tự kinh doanh hàng mang nhãn đó, để bảo đảm tính khách quan của việc chứng nhận.

Nhãn hiệu liên kết. Các nhãn hiệu của cùng một chủ, trùng hoặc tương tự nhau, dùng cho sản phẩm cùng loại hoặc liên quan, tạo thành một họ nhãn hiệu.

Nhãn hiệu nổi tiếng. Nhãn hiệu được người tiêu dùng có liên quan biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. Điểm đặc biệt là được bảo hộ không cần đăng ký và vượt ra ngoài nguyên tắc chuyên biệt: có thể ngăn người khác dùng dấu hiệu tương tự cho cả hàng hoá không liên quan, nếu việc dùng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hoặc làm suy giảm khả năng phân biệt. Gánh nặng chứng minh độ nổi tiếng rất nặng, gồm số liệu doanh số, quảng cáo, phạm vi lưu hành, khảo sát người tiêu dùng.

Nhãn hiệu phi truyền thống. Hình ba chiều như hình dáng chai, màu sắc đơn lẻ, âm thanh. Loại này khó đăng ký hơn nhiều vì thường phải chứng minh người tiêu dùng nhận ra nó là chỉ dẫn nguồn gốc chứ không chỉ là hình dáng chức năng hay trang trí.

Câu hỏi thường gặp

Logo đã có quyền tác giả thì còn cần đăng ký nhãn hiệu không?

Cần. Quyền tác giả với logo chỉ chống sao chép bản vẽ đó, không chống người khác dùng một tên hoặc hình tương tự gây nhầm lẫn trên cùng loại hàng. Quyền nhãn hiệu mới cho phép ngăn hành vi gây nhầm lẫn trên thị trường, và là căn cứ làm việc với sàn thương mại điện tử.

Nhãn hiệu chữ và nhãn hiệu kết hợp chữ với hình, nên đăng ký loại nào?

Nhãn chữ thuần, không kèm kiểu chữ hay màu, cho phạm vi bảo hộ rộng nhất vì ngăn được mọi cách trình bày cái tên đó. Nhãn kết hợp hợp lý khi phần chữ yếu và cần phần hình để có khả năng phân biệt. Doanh nghiệp có ngân sách thường nộp cả hai.

Có được đăng ký tên mình làm nhãn hiệu không?

Họ tên riêng thường có thể đăng ký nếu có khả năng phân biệt và không xung đột quyền có trước. Rủi ro nằm ở chỗ khi chuyển nhượng doanh nghiệp, nhãn hiệu mang tên người sáng lập có thể đi theo doanh nghiệp, tạo tranh chấp về việc người đó còn được kinh doanh dưới tên mình không.

Ký hiệu ® và TM khác nhau thế nào?

Ký hiệu ® theo thông lệ chỉ dùng cho nhãn hiệu đã được cấp giấy chứng nhận; dùng khi chưa được cấp có thể bị coi là chỉ dẫn sai. TM là ký hiệu không chính thức, báo hiệu doanh nghiệp coi dấu hiệu đó là nhãn hiệu của mình, không tạo quyền gì.

Nhãn hiệu tiếng Anh có được bảo hộ tại Việt Nam không?

Có. Từ ngữ nước ngoài được đánh giá theo cách người tiêu dùng Việt Nam hiểu: từ tiếng Anh thông dụng mang nghĩa mô tả như "fresh" cho thực phẩm vẫn bị coi là thiếu khả năng phân biệt, còn từ ít phổ biến có thể được xem như dấu hiệu tuỳ ý.

Tên miền trùng nhãn hiệu của người khác có vi phạm không?

Có thể. Đăng ký, chiếm giữ hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ, với mục đích xấu, được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật Việt Nam, và các cơ chế giải quyết tranh chấp tên miền quốc tế cũng xử lý loại việc này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.