TrungTamPhatMinh.comTrung Tâm Phát Minh
Sáng chế và bằng độc quyền

Điều kiện bảo hộ sáng chế: tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp

Ba điều kiện bảo hộ sáng chế được thẩm định ra sao: tính mới tuyệt đối, trình độ sáng tạo theo cách tiếp cận vấn đề–giải pháp, khả năng áp dụng công nghiệp.

Macro shot of two nearly identical precision gears side by side on dark slate, one with a subtle modified tooth profile, cool blue rim lighting, shallow depth of field

Một sáng chế được cấp bằng độc quyền khi đáp ứng đồng thời ba điều kiện: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Tính mới hỏi "đã có ai công bố đúng giải pháp này chưa"; trình độ sáng tạo hỏi "một người thạo nghề có dễ dàng nghĩ ra nó từ những gì đã biết không"; khả năng áp dụng công nghiệp hỏi "có làm ra được hàng loạt với kết quả ổn định không".

Trên thực tế, phần lớn đơn bị từ chối không vì thiếu tính mới mà vì thiếu trình độ sáng tạo: giải pháp chưa từng được mô tả nguyên văn ở đâu, nhưng người thẩm định ghép hai, ba tài liệu đã biết và lập luận rằng sự kết hợp đó là hiển nhiên. Hiểu cách người thẩm định lập luận là cách tốt nhất để soạn đơn đứng vững.

Phần dưới lần lượt giải thích từng điều kiện theo logic thẩm định, kèm các học thuyết và án lệ nước ngoài thường được viện dẫn, rồi đưa ra một quy trình tự đánh giá trước khi nộp đơn.

Tính mới: chuẩn tuyệt đối, toàn cầu, so với từng tài liệu riêng lẻ

Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, sáng chế có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác, ở trong nước hoặc ở nước ngoài, trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên. Đây là chuẩn tính mới tuyệt đối: một bài báo tiếng Hàn, một luận văn lưu ở thư viện đại học Brazil, một đoạn video trình diễn sản phẩm đăng mạng, một chiếc máy bày bán ở hội chợ, đều có thể là tài liệu đối chứng. Toàn bộ những gì công chúng đã có thể tiếp cận trước ngày nộp đơn được gọi là tình trạng kỹ thuật.

Điểm kỹ thuật quan trọng: tính mới được đánh giá bằng cách so giải pháp với từng tài liệu đối chứng riêng lẻ. Một giải pháp chỉ mất tính mới khi có một nguồn duy nhất bộc lộ đầy đủ tất cả các dấu hiệu trong yêu cầu bảo hộ. Ghép tài liệu A với tài liệu B để thấy đủ dấu hiệu thì không phải là phép thử tính mới, mà là phép thử trình độ sáng tạo. Vì vậy, gần như mọi đơn được soạn tử tế đều qua được tính mới ở yêu cầu bảo hộ hẹp nhất; câu hỏi thật là liệu nó có qua được bước tiếp theo.

Bộc lộ "công khai" nghĩa là ít nhất một người không có nghĩa vụ giữ bí mật đã có thể tiếp cận thông tin. Trình bày giải pháp cho nhà đầu tư dưới thoả thuận bảo mật, gửi bản vẽ cho xưởng gia công có cam kết giữ bí mật, thường không bị coi là bộc lộ. Nhưng trình bày ở hội thảo mở, nộp luận văn vào thư viện công khai, đăng ảnh sản phẩm lên mạng xã hội thì có thể. Thói quen ký thoả thuận bảo mật trước khi mang giải pháp đi giới thiệu là việc rẻ nhất để giữ tính mới.

Thời hạn ân hạn: tấm lưới an toàn mỏng và không đồng nhất

Nhiều nhà nghiên cứu nghe nói có "thời gian ân hạn" và yên tâm công bố trước, nộp đơn sau. Cơ chế này có thật nhưng hẹp hơn nhiều so với cách người ta tưởng. Luật Việt Nam cho phép một sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu nó được công bố bởi chính người có quyền đăng ký hoặc người nhận thông tin từ họ, hoặc bị người khác công bố không được phép, với điều kiện đơn được nộp trong một thời hạn nhất định kể từ ngày công bố. Thời hạn này đã được điều chỉnh qua các lần sửa luật (lần sửa đổi năm 2022 kéo dài so với mức sáu tháng trước đó), nên bạn phải kiểm điều khoản về tính mới trong bản hợp nhất hiện hành trước khi dựa vào nó.

Vấn đề lớn hơn nằm ở nước ngoài. Hoa Kỳ, sau Đạo luật America Invents Act năm 2011, giữ thời hạn ân hạn một năm cho công bố của chính nhà sáng chế. Công ước Bằng sáng chế châu Âu thì gần như không có ân hạn chung: ngoài trường hợp bị lạm dụng hoặc trưng bày tại một số triển lãm quốc tế được công nhận, mọi công bố trước ngày nộp đơn đều phá huỷ tính mới. Một nhóm nghiên cứu Việt Nam đăng bài báo rồi mới nộp đơn trong nước, dù được ân hạn ở Việt Nam, có thể đã đánh mất khả năng bảo hộ ở châu Âu và nhiều thị trường khác.

Nguyên tắc an toàn được giới luật sư sở hữu trí tuệ khuyến nghị gần như thống nhất: nộp đơn trước, công bố sau. Một đơn được nộp kịp, kể cả chưa hoàn hảo, có thể làm căn cứ hưởng quyền ưu tiên cho các đơn nộp ra nước ngoài trong vòng mười hai tháng theo Công ước Paris. Ân hạn chỉ nên coi là phương án cứu vãn khi đã lỡ công bố, không phải kế hoạch.

Trình độ sáng tạo: cách người thẩm định thực sự lập luận

Luật Việt Nam định nghĩa sáng chế có trình độ sáng tạo nếu, căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ, nó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Câu chữ này còn trừu tượng; để áp dụng nhất quán, Cơ quan Sáng chế châu Âu phát triển phương pháp "tiếp cận vấn đề–giải pháp" (problem-solution approach), được nhiều cơ quan khác tham khảo. Phương pháp gồm các bước:

  1. Xác định tình trạng kỹ thuật gần nhất: tài liệu đối chứng hướng tới cùng mục đích và có nhiều dấu hiệu chung nhất với sáng chế.
  2. Xác định các dấu hiệu khác biệt giữa yêu cầu bảo hộ và tài liệu gần nhất đó, cùng hiệu quả kỹ thuật mà các dấu hiệu khác biệt mang lại.
  3. Phát biểu lại vấn đề kỹ thuật khách quan: từ hiệu quả kỹ thuật vừa xác định, vấn đề mà sáng chế thực sự giải quyết là gì. Vấn đề này có thể khác với vấn đề người nộp đơn tự tuyên bố trong bản mô tả.
  4. Hỏi câu "liệu có, chứ không phải có thể": xuất phát từ tài liệu gần nhất và đối mặt vấn đề khách quan, người thạo nghề liệu có được tình trạng kỹ thuật dẫn dắt tới giải pháp của sáng chế không. Chỉ cần chứng minh người đó có thể làm vậy là chưa đủ để kết luận hiển nhiên.

Nhân vật "người có hiểu biết trung bình" là một hư cấu pháp lý: biết toàn bộ tình trạng kỹ thuật trong lĩnh vực, có kỹ năng thực hành bình thường, nhưng không có năng lực sáng tạo đặc biệt. Khi lập luận phản bác ý kiến thẩm định, người nộp đơn thường tập trung vào bước 4: chỉ ra rằng không có gợi ý nào trong tài liệu đã biết hướng người thạo nghề kết hợp các dấu hiệu theo cách của sáng chế, hoặc tài liệu đã biết còn hướng theo chiều ngược lại.

Thiên kiến nhìn lại và các dấu hiệu gián tiếp của sáng tạo

Thiên kiến nhìn lại là kẻ thù của mọi đơn sáng chế. Khi đã biết đáp án, mọi giải pháp đều trông hiển nhiên. Người thẩm định đọc sáng chế trước rồi mới đi tìm tài liệu, nên luôn có nguy cơ dùng chính sáng chế làm "bản đồ" để chọn và ghép các mảnh từ tình trạng kỹ thuật. Phương pháp vấn đề–giải pháp ra đời một phần để hạn chế thiên kiến này, buộc lập luận phải xuất phát từ điểm đứng của người thạo nghề trước ngày nộp đơn.

Tòa án Hoa Kỳ chính thức hoá các "xem xét thứ cấp". Trong vụ Graham v. John Deere Co. năm 1966, Toà án Tối cao Hoa Kỳ đặt khung đánh giá tính không hiển nhiên, trong đó ngoài so sánh kỹ thuật còn xét các dấu hiệu gián tiếp như thành công thương mại, nhu cầu lâu dài chưa được đáp ứng, và việc người khác đã thử nhưng thất bại. Năm 2007, vụ KSR International v. Teleflex nới lỏng phép thử cứng nhắc trước đó, cho phép coi là hiển nhiên những kết hợp các yếu tố đã biết theo cách có thể dự đoán được.

Định kiến kỹ thuật là lập luận mạnh nếu có chứng cứ. Nếu giới chuyên môn từng tin rằng một hướng đi là không khả thi, và sáng chế chứng minh điều ngược lại, đó là dấu hiệu mạnh của trình độ sáng tạo. Ví dụ giả định: các tài liệu kỹ thuật đều khuyến cáo không sấy một loại hạt ở nhiệt độ trên một ngưỡng vì làm hỏng chất lượng, sáng chế chỉ ra một chu trình gia nhiệt xung ở nhiệt độ cao mà không gây hỏng. Lập luận cần được chống lưng bằng tài liệu thể hiện định kiến đó và số liệu thực nghiệm.

Hiệu quả bất ngờ hay hiệu ứng cộng hưởng. Hai thành phần đã biết khi kết hợp cho kết quả lớn hơn tổng hiệu quả riêng lẻ, hoặc một khoảng thông số chọn lọc cho tính chất khác hẳn kỳ vọng, là căn cứ hay gặp trong hoá học và vật liệu. Điều kiện là hiệu quả đó phải được bộc lộ hoặc ít nhất có cơ sở trong bản mô tả gốc, không thể đến lúc tranh luận mới bịa ra.

Khả năng áp dụng công nghiệp: điều kiện dễ qua nhưng không phải hình thức

Sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình, và thu được kết quả ổn định. "Công nghiệp" ở đây hiểu rất rộng, bao gồm cả nông nghiệp, thuỷ sản, dịch vụ kỹ thuật. Đa số đơn qua điều kiện này mà không cần tranh luận.

Có ba nhóm hay vướng. Thứ nhất là giải pháp trái với quy luật vật lý đã được xác lập, điển hình là các "động cơ vĩnh cửu" hay thiết bị tạo năng lượng nhiều hơn năng lượng đầu vào; cơ quan sáng chế các nước vẫn nhận những đơn như vậy và từ chối chúng ở điều kiện này hoặc vì không bộc lộ được cách thực hiện. Thứ hai là giải pháp chỉ thực hiện được một lần hoặc phụ thuộc vào kỹ năng cá nhân không thể truyền đạt, như một tác phẩm thủ công độc bản. Thứ ba là giải pháp có kết quả ngẫu nhiên, lúc được lúc không, mà bản mô tả không chỉ ra được điều kiện để tái lập.

Ở Hoa Kỳ, điều kiện tương ứng được gọi là tính hữu ích (utility), và trong công nghệ sinh học đã có những đơn bị từ chối vì chỉ nêu một trình tự gen mà chưa chỉ ra được công dụng cụ thể, thực chất, đáng tin. Với nhà nghiên cứu, bài học là: đừng nộp đơn khi mới có ý tưởng hay kết quả lẻ tẻ; cần ít nhất một phương án thực hiện có thể lặp lại và chỉ rõ được ứng dụng.

Bảng tổng hợp: mỗi điều kiện hỏi gì và cần bằng chứng gì

Bảng dưới đây gom ba điều kiện vào cùng một khung để bạn dùng khi tự rà một giải pháp trước khi quyết định nộp đơn.

Điều kiệnCâu hỏi thẩm địnhSo với cái gìLỗi thường gặp của người nộp đơn
Tính mớiCó tài liệu nào bộc lộ đủ mọi dấu hiệu của yêu cầu bảo hộ không?Từng tài liệu riêng lẻ trong tình trạng kỹ thuật toàn cầuTự công bố trước khi nộp; chỉ tra cứu tiếng Việt
Trình độ sáng tạoNgười thạo nghề có được dẫn dắt tới giải pháp từ những gì đã biết không?Kết hợp tài liệu gần nhất với hiểu biết chung và tài liệu khácKhông nêu hiệu quả kỹ thuật của dấu hiệu khác biệt; không có số liệu đối chứng
Khả năng áp dụng công nghiệpCó làm lại được hàng loạt, kết quả ổn định không?Quy luật tự nhiên và khả năng tái lậpMô tả mơ hồ, chỉ có ý tưởng, thiếu ví dụ thực hiện

Trình tự hợp lý khi tự đánh giá: tra cứu để tìm tài liệu gần nhất; liệt kê dấu hiệu khác biệt; với mỗi dấu hiệu, viết một câu về hiệu quả kỹ thuật nó mang lại và bằng chứng (thí nghiệm, đo đạc) cho hiệu quả đó; rồi tự hỏi tài liệu nào khác có thể gợi ý dấu hiệu ấy. Nếu không viết được câu hiệu quả kỹ thuật, khả năng cao người thẩm định sẽ kết luận dấu hiệu khác biệt chỉ là lựa chọn thiết kế thông thường. Quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp được sửa đổi định kỳ; trước khi ra quyết định, bạn đối chiếu Luật Sở hữu trí tuệ bản hợp nhất mới nhất, các nghị định, thông tư hướng dẫn và thông tin chính thức của Cục Sở hữu trí tuệ.

Câu hỏi thường gặp

Sáng chế đã được bán ở nước ngoài nhưng chưa có ở Việt Nam thì còn tính mới không?

Không. Chuẩn tính mới là toàn cầu, nên một sản phẩm đã được bán công khai ở bất kỳ nước nào trước ngày nộp đơn đều là tình trạng kỹ thuật. Đưa một giải pháp có sẵn ở nước ngoài về đăng ký ở Việt Nam không tạo ra bằng hợp lệ, và nếu được cấp nhầm thì có thể bị yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực.

Tài liệu đối chứng phải là bằng sáng chế mới tính không?

Không. Mọi hình thức bộc lộ công khai đều tính: bài báo, sách, luận văn, catalogue, hướng dẫn sử dụng, video, sản phẩm bày bán, bài trình bày hội thảo. Trên thực tế, tài liệu phi sáng chế thường khó tra cứu hơn và là nguồn gây bất ngờ trong các vụ yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực.

Người có hiểu biết trung bình là chuyên gia đầu ngành hay kỹ thuật viên?

Không phải cả hai. Đó là người thạo nghề có kiến thức chung và kỹ năng thực hành thông thường trong lĩnh vực, tiếp cận được toàn bộ tình trạng kỹ thuật, nhưng không có năng lực sáng tạo đặc biệt. Trong lĩnh vực liên ngành, nhân vật này có thể được hình dung như một nhóm chuyên gia các ngành liên quan.

Thay vật liệu thép bằng nhôm có đủ trình độ sáng tạo không?

Thường là không, nếu việc thay thế chỉ mang lại những ưu điểm đã biết của nhôm như nhẹ hơn. Nó có thể đủ nếu sự thay thế đòi hỏi vượt qua một khó khăn kỹ thuật cụ thể, hoặc tạo ra hiệu quả không dự đoán được, và những điều đó được bộc lộ trong bản mô tả.

Ngày ưu tiên khác ngày nộp đơn thế nào?

Ngày nộp đơn là ngày cơ quan sáng chế nhận đơn. Ngày ưu tiên là mốc dùng để đánh giá tính mới và trình độ sáng tạo; nó trùng với ngày nộp đơn, trừ khi người nộp yêu cầu hưởng quyền ưu tiên từ một đơn nộp trước đó, chẳng hạn đơn đầu tiên nộp ở nước khác trong vòng mười hai tháng theo Công ước Paris.

Có thể bổ sung số liệu thí nghiệm sau khi nộp đơn để chứng minh trình độ sáng tạo không?

Có thể nộp thêm số liệu để hỗ trợ lập luận trong quá trình thẩm định, nhưng số liệu đó chỉ củng cố hiệu quả kỹ thuật đã được bộc lộ hoặc có cơ sở trong bản mô tả gốc. Một hiệu quả hoàn toàn mới không có dấu vết trong đơn ban đầu thường không được chấp nhận làm căn cứ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.